Tìm kiếm Blog này

Trang

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2008

RELATIVE AFFERENT PUPILLARY DEFECT

TỔN THƯƠNG PHẢN XẠ HƯỚNG TÂM ĐỒNG TỬ

BS Hoàng Chí Tâm

* Định nghĩa:

+ Viết tắt: RAPD

+ Đồng nghĩa: Marcus Gunn - Pupil

+ Tổn thương phản xạ hướng tâm đồng tử. Một sự khiếm khuyết phản xạ đồng tử đặc trưng bởi sự co nhỏ hơn của đồng tử 2 bên khi mắt bị tổn thương được kích thích bằng ánh sáng được so sánh với trạng thái tương tự khi mắt bình thường được kích thích. Tuy nhiên, dễ dàng quan sát hiện tượng này hơn khi chuyển nguồn sáng từ mắt này sang mắt kia trong phòng tối trong lúc bệnh nhân đang định thị với một vật ở xa. Sự kích thích ở mắt bình thường sẽ tạo nên sự co đồng tử hai mắt, ngược lại, sự kích thích nhanh ở mắt tổn thương sẽ dẫn đến dãn đồng tử nhẹ (một đáp ứng ngược, đôi khi được cho là đồng tử "quên" phản xạ). Bệnh lý này do bởi tổn thương ở thị thần kinh một mắt gây khiếm khuyết đường phản xạ đồng tử hướng tâm. Nó thường là hậu quả của xơ cứng đa ổ hoặc viêm thị thần kinh hoặc viêm thị thần kinh hậu nhãn.

* Khám lâm sàng: (Ví dụ mắt Trái bị tổn thương)

+ Bệnh nhân ngồi trong phòng tối, hoặc điều kiện ánh sáng ít, lúc này đồng tử 2 mắt sẽ dãn (hình A)

+ Dùng đèn khám chiếu sáng vào mắt bên phải, đồng tử sẽ co lại và theo phản xạ, thì đồng tử mắt bên trái cũng đồng thời co nhỏ (hình B).

+ Chuyển đèn khám sang mắt trái, đồng tử mắt bên này chỉ co nhẹ, có xu hướng dãn ra ít, quan sát mắt bên phải, đồng tử không co nhỏ như kích thích ở hình B. (hình C)

+ Chuyển ánh chiếu sáng qua mắt phải một lần nữa (hình D) ta sẽ thấy đồng tử 2 mắt co nhỏ.

Kết luận: Mắt trái bị tổ thương và mất phản xạ hướng tâm đồng tử.

Hình: Mô tả khám phản xạ hướng tâm đồng tử

* Cơ chế:

+ Xem hình


Phản xạ của mắt với ánh sáng được thực hiện qua trung gian của hệ thần kinh tự động. Đường hướng tâm của phản xạ này liên quan với võng mạc và thị thần kinh. Những sợi thần kinh trong thị thần kinh tỏa ra song song đến nhân pretectum, từ nhân này, những sợi thần kinh chạy đến cả hai bên nhân Edinger-Westphal, phần nhân vận động (dây thần kinh số III), hình thành những liên lạc với những sợi thần kinh của dây III là hoạt động phó giao cảm. Những sợi này nối vào lại hạch mi để dẫn truyền xung thần kinh đến cơ co đồng tử.

Chính vì có 2 nhánh đến nhân E - W, nên giải thích tại sao khi chiếu ánh sáng vào mắt bình thường (trong ví dụ trên là mắt phải) thì mắt bị tổn thương (trái) có phản xạ liên ứng - co đồng tử. Trong khi đó nếu như đường hướng tâm tức là dẫn truyền từ võng mạc đến vùng Pretectum bị tổn thương bên mắt trái, nó không có khả năng dẫn truyền kích thích đến nhân E - W và dẫn truyền xung thần kinh sang hạch mi mắt đối bên để gây phản xạ đồng tử.



Thứ Năm, 19 tháng 6, 2008

BELL'S PALSY

BELL’S PALSY

Bs Hoàng Chí Tâm

* Định nghĩa:

+ Liệt Bell, đó là tình trạng yếu và liệt một bên mặt. Bell's Palsy: Facial Droop


* Nguyên nhân:

+ Nguyên nhân không rõ ràng. Tình trạng này được nghi là do dây thần kinh mặt bị kích thích và trở nên phù do viêm. Khi dây thần kinh này xuyên qua lỗ hẹp ở sọ, nó bị chèn ép và gây ra những triệu chứng. Một số bác sỹ tin là do nhiễm virus Herpes. Chấn thương mặt hoặc đầu, những khối u, đột quị, áp xe, nhiếm HIV, bệnh lý tự miễn, sử dụng thuốc như hóa liệu pháp, bệnh lý di truyên, hoặc những vấn đề y khoa khác cũng có thể gây liệt dây thần kinh mặt.

* Những yếu tố nguy cơ:

+ Những thành viên gia đình có liệt Bell

+ Phụ nữ mang thai

+ Đái tháo đường

+ Cảm hoặc cúm

+ Hệ miễn dịch bị suy giảm

+ Tuổi tác

+ Hút thuốc lá

+ Tăng huyết áp

+ Nhiễm trùng tai

+ Nhiễm HIV

+ Chấn thương đầu mặt

+ Bệnh sử ung thư

* Triệu chứng:

+ Những triệu chứng của liệt Bell có thể xảy ra đột ngột hoặc tăng dần trong một vài ngày. Những triệu chứng đầu tiên có thể bao gồm:

· Đau sau tai xảy ra trước khi yếu và liệt

· Trong tai có tiếng reo

· Sốt nhẹ

· Khả năng nghe bị ảnh hưởng nhẹ

+ Những triệu chứng đầy đủ của liệt Bell gồm:

Yếu hoặc liệt mặt:

· Xảy ra một bên

· Da trán nhẵn

· Không có khả năng cười

· Dị cảm trước khi yếu liệt xảy ra

· Méo miệng

· Chảy nước bọt

· Chảy nước mắt

· Không có khả năng nhắm mắt mà điều này có thể dẫn đến:

o Mắt đỏ và khô

o Loét giác mạc

o Nhiễm trùng

o Có thể phải khoét mắt

· Khô mắt

· Vị giác bị tổn thương

· Đau tai

· Nói ngọng

* Chẩn đoán:

Bác sỹ sẽ hỏi về những triệu chứng và bệnh sử y khoa, và thực hiện khám

Những thử nghiệm khác có thể gồm:

· Đo thính lực: để xem có tổn thương phối hợp dây VIII, tai trong hoặc hệ thống nghe

· Thử nghiệm thăng bằng: có liên quan đến những thần kinh thăng bằng hay không

· Lumbar puncture: loại trừ viêm màng não, những rối loạn tự miễn hoặc ung thư di căn.

· Đo khả năng sản xuất nước mắt

· Chụp CT hoặc MRI tìm tổn thương gây ảnh hưởng thần kinh mặt.

· Thử nghiệm kích thích bằng điện: để biết thần kinh mặt bị tổn thương nghiêm trọng đến mức nào.

· Sinh hóa máu: đái tháo đường, HIV, bệnh Lyme

* Điều trị:

+ Trong hầu hết các trường hợp, những triệu chứng mất trong vài tuần mà không cần điều trị. Có nhiều trường hợp liệt Bell hồi phục hoàn toàn sau một vài tháng.

+ Bảo vệ nhãn cầu là quan trọng, bởi vì bệnh nhân không có khả năng chớp mắt. Nếu nguyên nhân rõ ràng cần được điều trị. Tuy nhiên đối với một số bệnh nhân những triệu chứng này chẳng bao giờ mất.

+ Sau đây là một số cách điều trị liệt Bell:

Thuốc:

· Corticosteroid hoặc NSAIDs để giảm viêm và đau

· Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng steroids như là prednisolone có thể cải thiện rõ sự hồi phục hoàn toàn trong liệt Bell

Phẫu thuật: Một số bác sỹ cố gắng phẫu thuật để làm giảm chèn ép thần kinh bằng cách lấy một phần xương. Nếu mi mắt không nhắm được, phẫu thuật lên mí mắt có thể được cân nhắc.

Tự chăm sóc: bệnh nhân có thể cần nhỏ nước mắt nhân tạo vào mắt. Mắt này có thể được băng khi ngủ để tránh khô mắt. Xoa bóp cơ mặt bị yếu có thể mang lại lợi ích.